Năm đầu đời của bé sẽ đầy ắp những cột mốc thú vị. Để mang đến cho con một khởi đầu hoàn hảo, hãy tìm hiểu ngay việc nuôi con bằng sữa mẹ, dinh dưỡng cho bé đến các mẹo chăm sóc con hàng ngày.
Mẹ có biết nụ cười đầu tiên cũng là một trong những cột mốc đánh dấu sự phát triển của bé? Dấu hiệu này cho thấy bé đã phát triển tốt về khả năng nhìn và quan sát. Đồng thời, bé đã có thể nhận ra gương mặt thân thương của ba, mẹ. Lúc này, bộ não và hệ thần kinh của bé vừa đủ “lớn” để loại bỏ kiểu cười phản xạ, bé dần nhận ra cười là cách để kết nối cảm xúc với mọi người xung quanh.
[inline_article id = 62295]
Bé con cũng biết rằng cảm xúc của mình ảnh hưởng như thế nào đến ba, mẹ. Vì thế, mẹ nên hiểu nụ cười của bé luôn mang nghĩa tích cực. Đó là biểu hiện của niềm vui, sự hứng thú và phấn khích. Khi bé cười với mẹ, mẹ nên biết là bé đang cho mẹ điểm 10 của chất lượng đấy!
2/ Khi nào bé cười thực sự?
Đến khoảng 2-3 tháng tuổi, bé sẽ thôi cười theo phản xạ. Mẹ dễ dàng bắt gặp bé cười vì thích thú bắt đầu từ khoảng thời gian này. Tuy nhiên, khi bé ngủ hoặc mệt mỏi, mẹ thấy bé hay cười. Đây vẫn là những nụ cười phản xạ mẹ nhé!
Nếu bé vẫn chưa cười “đúng nghĩa”, có một vài mẹo giúp bé nhích môi lên đấy! Tip cho mẹ: Nói chuyện với bé thường xuyên hơn, đừng quên trao đổi bằng ánh mắt với bé và luôn mỉm cười. Mẹ cũng có thể làm mặt hề, chơi ú òa, giả tiếng động vật, thổi vào bụng bé… Tuy nhiên, mẹ nhớ đừng lạm dụng quá nhé. Nếu bé thuộc dạng “nghiêm túc”, khó cười, mẹ cứ từ từ thôi, cho con chút thời gian, cảm xúc mà mẹ ơi!
3/ Cười, cười nữa, cười mãi
Một khi bé đã biết cười thực sự, sẽ không có gì khó hiểu nếu mẹ thấy bé thường xuyên tỏ thái độ phấn khích và tươi cười. Nhờ lần đầu tiên, bé quan sát được niềm vui trong mắt mẹ, thái độ và cử chỉ của mẹ đầy cảm xúc và tình yêu thương. Từ đó, bé nhận ra rằng nụ cười của mình quan trọng, hữu dụng như thế nào. Vì vậy, bé sẽ chăm cười hơn để làm mẹ vui.
Lúc kỹ năng quan sát được phát triển, bé sẽ để ý hơn đến âm thanh xung quanh và dần dần cười ra tiếng. Ban đầu, đó có thể chỉ là tiếng thì thầm, dần thành khúc khích và cuối cùng là cười lớn. Khoảng 5 tháng tuổi, mẹ sẽ bất ngờ với tràng cười phát ra từ bụng của bé đấy.
4/ Dấu hiệu cảnh báo
Mẹ luôn mong ngóng được thấy nụ cười thiên thần, nhưng đừng quá lo lắng nếu bé ít cười. Điều này không đồng nghĩa bé đang khó chịu hay bất mãn chuyện gì đó. Chỉ khi đã qua 3 tháng tuổi nhưng bé vẫn không nhích môi lên tươi tắn, mẹ nên đưa bé đến bác sĩ để được tư vấn nhé.
PUPD là viết tắt của cụm từ “Put up/ Put down”, nâng lên và hạ xuống. Khi đến giờ ngủ nhưng bé vẫn còn thức, bạn bế bé lên, an ủi, vỗ về rồi mới đặt bé trở lại nôi của mình. Lặp đi lặp lại hành động này cho đến khi bé thực sự đi vào giấc ngủ.
Không phải nhóc nào cũng thích phương pháp này đâu nhé!
Phương pháp này đòi hỏi bạn phải thật sự rất, rất …kiên nhẫn và nó không phù hợp cho tất cả trẻ em. Một vài bé khi được đưa lên đưa xuống như vậy thường cảm thấy bị kích thích hơn là thư giãn. Và hệ quả là bé còn khó ngủ hơn trước. Vì vậy, bạn nên tìm hiểu kỹ thói quen của bé trước khi áp dụng phương pháp này với con nhé!
Mất bao lâu để “huấn luyện” bé theo phương pháp này?
Bạn sẽ mất ít nhất 5 ngày nếu muốn thay đổi “lịch trình” của bé theo phương pháp này. Thậm chí, có người mất hẳn 3 tuần để giúp bé con mình làm quen theo cách ngủ này. Thời gian có thể lâu hoặc mau hơn tùy thuộc vào thói quen và tính cách của từng nhóc.
Cũng có khá nhiều tranh cãi về phương pháp PUPD. Một vài mẹ ủng hộ vì cách này giúp bạn gần gũi với con mình hơn. Bạn sẽ ở bên bé hầu hết thời gian để ru bé ngủ hoàn toàn. Và cách này nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với kiểu “Cứ để mặc bé khóc”.
Trong khi đó, nhiều mẹ cũng gặp khó khăn khi áp dụng cách này cho bé của mình. Các mẹ thường không biết mình nên bế con lên trong khoảng thời gian bao lâu. Cũng có trường hợp, mẹ không thể duy trì sự nhất quán hoàn toàn khi áp dụng hoàn toàn phương pháp này. Thật khó khi cứ phải nâng bé lên rồi hạ xuống cho đến khi bé ngủ.
[inline_article id=32613]
Một vài mẹo bạn có thể áp dụng để thành công:
1/ Chuẩn bị tinh thần ổn định trước khi bắt đầu. Bạn nên nghỉ ngơi và đảm bảo sức khỏe của mình trước. Hẳn bạn không muốn thấy cảnh con chưa ngủ nhưng mẹ đã mệt lả rồi đúng không?
2/ Một vài bé sẽ cảm thấy không thoải mái với cách này. Vì vậy, bạn nên để ý từng cử chỉ cũng như cách con phản ứng. Bạn có thể cho con một ít thời gian để bé thích nghi.
3/ Tranh thủ sự giúp đỡ của người khác. Sẽ không có gì ngại ngùng nếu bạn nhờ ai đó giúp mình một tay. Người đó có thể là anh xã của bạn, mẹ hay em gái chẳng hạn. Đây là một phương pháp “khó nuốt” nếu như bạn là một mình.
Không phải quy định, nhưng là thói quen. Khi đồng hồ điểm giờ ngủ, mẹ thường vội vã bế bé vào giường và luôn muốn con yêu ngủ đúng giờ, đủ giấc. Tuy nhiên mẹ ơi, bé không phải rô bốt tí hon đâu. Nhiều khi đang chơi, vui vẻ và phấn khích hay vừa ăn no xong, sao mẹ có thể muốn bé ngủ ngay được. Thay vì vậy, mẹ nên tạo thói quen trước khi ngủ cho bé.
Khoảng một tiếng trước khi bé say giấc, mẹ cho bé vào giường, kéo rèm, bật đèn ngủ, tạo môi trường thoải mái. Mẹ có thể tắm hoặc lau người sơ qua cho bé bằng nước ấm, thay quần áo và bỉm để bé thêm dễ chịu. Đừng quên chuẩn bị những bản nhạc êm ái hoặc những mẩu chuyện ngắn thủ thỉ cùng con. Vài tuyệt chiêu này nhanh chóng làm bé buồn ngủ. Lúc này, nhiệm vụ của mẹ sẽ trở nên cực kỳ đơn giản.
Bé ơi ngủ ngoan, đêm đã khuya rồi.
Sai lầm 2: Bỏ qua dấu hiệu buồn ngủ của bé
Trẻ sơ sinh có xu hướng ngáp, dụi mắt, trở nên khó chịu và chậm chạp, mỗi khi “phát” tín hiệu buồn ngủ. Tuy nhiên, mẹ thường bỏ qua những dấu hiệu đó và không cho bé ngủ theo nhu cầu. Thực tế, cơ thể bé sẽ không “sản xuất” melatonin, chất làm dịu giúp bé thư giãn, nếu mẹ bỏ qua cơn buồn ngủ tự nhiên này. Thay vào đó, hormone gây stress, cortisol xuất hiện làm bé khó ngủ.
Vì vậy, ngay khi thấy bé có dấu hiệu, mẹ nên cho bé đi ngủ. Nếu bé con nhà bạn quá mải chơi, gần đến giờ ngủ nhưng vẫn không thấy ngáp hay dụi mắt, mẹ nên sử dụng tuyệt chiêu ở trên. Chỉ khi vào đúng “ổ”, bé mới bắt đầu có cảm giác muốn ngủ đấy mẹ.
Sai lầm 3: Làm mọi cách để bé ngủ lại
Trẻ sơ sinh không ngủ thẳng giấc, cứ khoảng 2-3 tiếng/lần bé lại thức. Mỗi lần như vậy, mẹ lại thực hiện quy trình cho con ngủ lại từ đầu. Lâu ngày, mẹ đã vô tình tạo cho bé thói quen: Muốn ngủ lại ắt phải nhờ người khác. Khi bé được 6-8 tuần tuổi, mẹ có thể yên tâm về sự cứng cáp nhất định của bé. Thay vì hát ru, vỗ mông, xoa lưng, để bé tự ngủ lại theo bản năng. Đây mới là chiêu thông minh để mẹ khỏe, bé tự lập.
[inline_article id = 1118]
Sai lầm 4: Chuyển chỗ ngủ cho bé quá sớm
Cảm thấy chiếc cũi trở nên quá chật chội cho bé con đang ngày một lớn lên, mẹ quyết định mở rộng “địa bàn” cho bé sang giường trẻ em. Sự thay đổi đột ngột khi bé chưa sẵn sàng khiến bé lạ lẫm với không gian mới và trở nên khó ngủ. Chỉ khi bé con tự mình leo ra khỏi cũi (khoảng 2 tuổi), đây mới là thời điểm thích hợp mẹ nên đổi giường cho con.
Người lớn cũng mất thời gian trong việc thích nghi với chỗ ở mới, trẻ em cũng vậy. Để bé quen dần, mẹ nên tháo bớt một bên rào của cũi, đặt bên cạnh giường mới có độ cao vừa tầm. Cách sắp xếp này giúp bé “thân thiết” với “ổ” mới nhanh hơn. Mẹ đừng quên rào quanh giường để đảm bảo bé không lăn xuống đất nhé!
Sai lầm 5: Bạ đâu ngủ đấy
Với những bé khó ngủ, khi mẹ có thể cho bé say giấc nồng trong xe đẩy, trên ghế salon hay trong tay mẹ, hẳn là quá tuyệt vời. Mẹ sẽ không vì đặt con vào giường mà làm bé tỉnh giấc, để sau đó rất khó cho bé ngủ lại. Tuy nhiên, cách này không giúp bé ngủ sâu giấc và được thư giãn thoải mái. Hơn nữa, khi thức giấc, bé sẽ khó chịu và cau có nhiều hơn bình thường.
Mẹ thử nghĩ xem ngủ trên giường và ở ghế salon, ở đâu thích hơn? Vì vậy, trừ khi là những giấc ngủ ngắn, bạn nên cho bé ngủ đúng nơi để bé yêu ngủ ngon, mơ đẹp nhé.
Sai lầm 6: Lịch ngủ lộn xộn
Chỉ khi sắp xếp giờ ngủ cho bé trong ngày hợp lý, mẹ mới có thể yên tâm bé say giấc mỗi đêm. Thử nghĩ xem bé mới ngủ giấc chiều 6-7 giờ mới dậy, 8 giờ tối mẹ lại muốn bé ngủ ngay? Chia đều thời gian ngủ cho bé, tránh để mỗi ngày mỗi kiểu khiến múi giờ sinh hoạt của bé trở nên lộn xộn. Tuy nhiên, có những ngày bé ngủ trưa ít hoặc nhiều, mẹ nên dựa vào điều này để sắp xếp giờ ngủ cho bé vào buổi tối. Linh hoạt đôi chút để cả hai mẹ con đều có giấc ngủ ngon.
[inline_article id = 1036]
Sai lầm 7: Cho bé ngủ muộn
Khi bé chưa muốn ngủ, mẹ thường để bé thức khuya với hy vọng hôm sau bé sẽ ngủ bù. Điều này chỉ đúng với trẻ 13 tuổi trở lên thôi mẹ ơi. Đồng hồ sinh học của trẻ sơ sinh vận hành theo đúng quy trình, dù mẹ cho bé ngủ giờ nào, cứ sáng sớm bé sẽ thức dậy. Do đó, cho bé thức khuya chỉ làm bé thêm cáu gắt, mệt mỏi vào ngày hôm sau mà thôi. Trẻ sơ sinh cần ngủ đủ 10-11 tiếng mỗi đêm.
Sai lầm 8: Mặc kệ bé khóc
Nửa đêm khi trẻ tỉnh giấc, mẹ nghĩ rằng cứ để bé khóc cho đến khi mệt sẽ lăn ra ngủ. Tuy nhiên, chưa được 15 phút, mẹ đã phải quay sang vỗ về, bồng bế. Có thể mẹ mệt và chỉ muốn nằm thêm chút nữa, nhưng mẹ ơi đây không phải giải pháp hay. Chuyện này tiếp diễn, bé sẽ học được rằng: Hễ khóc, mẹ sẽ dỗ. Mẹ chỉ càng mệt thêm thôi.
Thay vì vậy, khi bé thức giấc nửa đêm và cần ai vỗ về, bạn, ông xã hay thậm chí ông, bà thay phiên nhau để trông bé. Đừng để bé khóc thành quen nhé!
Sai lầm 9: Mỗi người mỗi ý
Thay phiên nhau để trông con ngủ nhưng cách xoa dịu của ba mẹ lại hoàn toàn khác nhau. Ba vỗ mông, mẹ xoa lưng. Ba mẹ nên cùng nhau thống nhất cách cho bé ngủ để tránh làm lộn xộn thói quen của bé nhé!
Sai lầm 10: Từ bỏ quá sớm
Thói quen không phải dễ thay đổi. Vì vậy, ba mẹ nên kiên nhẫn trong quá trình hình thành giờ giấc ngủ nghỉ cho bé. Ít nhất mất đến 3 tuần, bé mới có thể quen dần với phương pháp ba mẹ đặt ra. Đừng từ bỏ quá sớm nhé ba mẹ!
Bắt đầu với ngón tay cái, chuyển động lên xuống kèm theo âm thanh như ngón tay đang nói chuyện với bé. Mẹ chỉ nên nói những câu thoại đơn giản như: “Chào bé” hoặc tạo tiếng động vật để thu hút sự chú ý của bé.
[inline_article id = 62159]
2/ Mắt, mũi, miệng
Di chuyển bàn tay bé xinh của trẻ lên từng bộ phận trên khuôn mặt mẹ. Mỗi lần dừng ở đâu, mẹ có thể tạo tiếng chụt hoặc moa để miêu tả như nụ hôn bé dành cho mẹ.
3/ To, nhỏ
Mẹ nắm bàn tay của bé và hỏi: “Con to lớn từng nào nào?”. Sau đó, mở rộng cánh tay bé ra và nói: “Lớn từng này này”. Trò chơi này tuy đơn giản nhưng vẫn sẽ làm bé thích thú đấy.
Ngoài 3 trò chơi trên, mẹ còn có thể tăng sự thích thú cho bé qua trò nhìn vào gương, nhìn các hình khối to nhỏ khác nhau, nhìn vào quả bóng lăn có chuông kêu bên trong.
Khi bé tốn quá nhiều thời gian cho bữa trưa, bé có thể sẽ bỏ mứa thức ăn hoặc bé thấy no tới tận bữa cơm chiều và thế là bé lại tiếp tục mất một hoặc hai tiếng đồng hồ cho bữa tối. Bên cạnh đó, tình trạng này cũng khiến các bà mẹ thường rơi vào trạng thái căng thẳng và bực bội mỗi khi tới giờ ăn của con.
Như thế nào được xem là ăn chậm?
Các bà mẹ có thể có quan điểm khác nhau về vấn đề này nhưng dưới đây là một số dấu hiệu điển hình.
Ăn một bữa mất từ 30-45 phút hoặc hơn
Thích nghịch thức ăn hơn là nhai và nuốt chúng
Ngậm thức ăn mà không chịu nhai hoặc nhai mà không nuốt
Phải có người nhắc mới chịu nhai và nuốt thức ăn
Phải cho uống nước lọc, nước canh hoặc nước trái cây mới chịu nuốt
Rất nhiều bà mẹ “khổ sở” vì thói quen ăn chậm của con và thật khó kiềm chế cơn giận khi bữa nào trẻ cũng dây dưa rất lâu mới ăn xong. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, có những lí do bao gồm cả khách quan lẫn chủ quan dẫn đến việc một đứa bé ăn quá chậm, bao gồm:
Khả năng tập trung của trẻ còn kém
Trẻ thích “khám phá” thức ăn trước khi thực sự ăn chúng
Trẻ ăn vặt suốt ngày nên đã no và không buồn ăn bữa chính
Trẻ muốn thể hiện sự tự chủ trong ăn uống của mình
Hầu hết bọn trẻ đều có giai đoạn ăn rất chậm ở độ tuổi mà chuyện chơi luôn gây thích thú hơn chuyện ăn uống. Bên cạnh đó, tình trạng chậm phát triển thể chất nói chung cũng có thể là nguyên nhân khiến con biếng ăn và ăn chậm.
Ép con ăn bằng cách la mắng hoặc đánh con thường không đem lại kết quả khả quan nào.
Dưới đây là một vài kinh nghiệm có thể giúp ba mẹ rút gọn thời gian cho bữa ăn của trẻ.
Đặt mục tiêu một cách thực tế
30-45 phút là khoảng thời gian hợp lý cho một bữa ăn của trẻ nhỏ nên nếu bạn ép con phải ăn xong sau 15 phút, có lẽ bạn nên xem lại. Ăn quá nhanh hoặc quá chậm đều không tốt cho dạ dày của trẻ. Bên cạnh đó, việc bắt một đứa trẻ đang ăn một bữa mất một tiếng giảm xuống còn 15 phút dường như là bất khả thi.
Ăn vặt trước bữa ăn là một trong những nguyên nhân chính khiến bé ăn chậm
Giảm bớt thức ăn vặt
Hầu hết bọn trẻ con đều thích ăn vặt và sẽ ăn vặt liên tục nếu có thể. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng trẻ đến bữa ăn đã lưng bụng và không thiết tha với các thức ăn trước mặt nữa. Mỗi ngày, chỉ cho con ăn vặt một lần và nên chọn loại thực phẩm lành mạnh mà không khiến trẻ bị no như trái cây hoặc sữa chua chẳng hạn. Bên cạnh đó cũng cần đặt ra thời gian biểu cụ thể cho các bữa ăn, bao gồm 3 bữa chính cách nhau 3-4 tiếng.
Dành thời gian nhiều hơn cho trẻ
Một trong những nguyên nhân về mặt tâm lý khiến trẻ ăn chậm là vì muốn được bố mẹ chú ý nhiều hơn. Và nếu bạn tự nhìn nhận được rằng mình thường ít dành thời gian cho con, đây rất có thể là lý do cho tình trạng “ăn chậm như rùa” của bé. Thử nói chuyện và chơi với con nhiều hơn, có thể thói quen chậm chạp kia sẽ nhanh chóng được cải thiện đấy.
Bí đỏ được xem là một trong những thực phẩm vàng cho mắt của bé, là một nguồn cung cấp vitamin A dồi dào cho cơ thể. Không những vậy, bí đỏ cũng chứa khá nhiều vitamin C và các chất khoáng quan trọng khác như betacaroten, kẽm, kali, sắt…
Món canh bí đỏ nấu với thịt nạc là một lựa chọn tuyệt vời cho các bé mẫu giáo và tiểu học. Còn đối với những bé vừa mới bắt đầu ăn dặm, mẹ cũng có thể cho bé ăn bí đỏ được rồi đấy! Nghiền nhuyễn bí đỏ và nấu với cháo, vừa ngon vừa đảm bảo dinh dưỡng cho bé. Tuy nhiên, ăn quá nhiều bí đỏ cũng không tốt, có thể khiến bé bị vàng da đấy nhé! Mẹ chỉ nên cho bé ăn từ 1 đến 2 lần thôi.
Bánh flan bí đỏ là một món tráng miệng vừa thơm ngon vừa bổ dưỡng cho bé
2. Cà chua
Là một trong những loại rau củ chứa nhiều vitamin A, cà chua cũng rất tốt cho thị lực của bé. Cà chua có chứa nhiều vitamin, chất xơ, chất chống oxy hóa, có khả năng giúp cơ thể giải độc, tái tạo tế bào, hỗ trợ hệ thống thần kinh và rất an toàn đối với trẻ em.
[inline_article id=1054]
Nếu muốn cho con ăn cà chua, mẹ nên chọn những trái cà chua chín. Ăn cà chua sống có thể khiến bé bị ngộ độc và ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của bé. Ngoài ra, mẹ có thể thêm một ít dầu khi chế biến cà chua cho bé, vì các chất dinh dưỡng trong cà chua sẽ được hấp thụ tốt hơn.
3. Cà rốt
Đối với cà rốt, mẹ cũng chỉ nên cho bé ăn 2 lần mỗi tuần và mỗi lần khoảng từ 30-50gr là hợp lý nhất. Trong cà rốt có chứa nhiều vitamin A, chất khoáng và chất xơ tốt cho thị lực và hệ tim mạch của bé. Song nếu ăn quá nhiều lại khiến bé bị thiếu máu, vàng da, chán ăn, bồn chồn , thỉnh thoảng bị giật mình vào buổi đêm…
Nước ép cà chua và cà rốt cũng là một lựa chọn không tồi cho các mẹ
4. Khoai lang
Không chỉ chứa các loại axit amin, vitamin và khoáng chất cần thiết như vitamin B, C, canxi, folic, sắt, kẽm…, khoai lang còn cung cấp một lượng lớn tinh bột cho bé. Khoai lang cũng rất dễ ăn và dễ chế biến cho bé, mẹ có thể hấp, luộc, thậm chí là nướng cũng được. Ngoài ra, khoai lang cũng không chứa nhiều chất béo và cholesterrol nên mẹ cũng yên tâm, không cần phải lo bé bị béo phì đâu.
5. Xoài
Xoài chứa hầu hết các loại vitamin cần thiết cho cơ thể như vitamin A, C, E, K và các loại xơ, chất khoáng như kali, magie…Vì vậy, xoài được xem như một loại quả tuyệt vời cho chế độ dinh dưỡng của bé. Khi cho bé ăn xoài, mẹ nên cắt từng miếng nhỏ vừa ăn và lấy đi những phần xơ để bé không bị mắc nghẹn.
6. Các loại trái cây có nhiều múi
Họ hàng nhà cam, chanh, bưởi chứa rất nhiều vitamin C, giúp cơ thể bé tăng sức đề kháng và tăng khả năng hấp thụ sắt từ những thực phẩm khác. Mẹ có thể cho con ăn hoặc ép thành nước cho bé uống sau mỗi bữa ăn. Nhớ là phải sau khi ăn từ 1 đến 2 giờ đồng hồ nhé!
Muối rất quan trọng đối với cơ thể con người, giúp đảm bảo cho các cơ quan trong cơ thể hoạt động một cách bình thường. Tuy nhiên, đối với trẻ em dưới 1 tuổi, muối lại là một trong những điều “cấm kỵ” đấy nhé!
Đối với trẻ nhỏ, lượng muối cơ thể cần mỗi ngày thường rất ít và những thực phẩm hàng ngày của bé như sữa, hoa quả, thịt, cá… đã đủ lượng muối cần thiết rồi. Vì vậy, việc cho bé ăn muối hoặc thêm muối vào đồ ăn của bé là hoàn toàn không cần thiết. Thậm chí, nó còn có thể gây hại cho con nữa đấy.
Đường
Giống như muối, nhu cầu đường của các bé một tuổi thường được bổ sung thông qua các thực phẩm hàng ngày. Vì vậy, việc cho đường vào thức ăn của con là hơi…thừa rồi nhé! Ngoài ra, cũng có khá nhiều nghiên cứu chứng minh về mối liên hệ giữa việc cho con ăn nhiều đồ ngọt ngay từ nhỏ và thói quen ăn uống nhiều đường và tinh bột sau này. Hơn nữa, thực phẩm chứa nhiều đường sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến những chiếc răng vừa mới nhú của con, mẹ nên cẩn thận nhé!
Những thực phẩm này có thể gây nguy hiểm đến bé cưng của bạn đấy!
Mật ong
Mật ong chứa rất nhiều dưỡng chất và vitamin tốt cho cơ thể. Tuy nhiên, đối với hệ tiêu hóa còn non nớt của bé, mật ong lại trở thành một “chất độc” đáng gờm đấy. Trong mật ong chứa bào tử clostridium botulinum, chất gây ngộ độc botulism. Đối với người lớn, những bào tử này hoàn toàn vô hại vì hệ tiêu hóa đã “trưởng thành”, đủ sức để vô hiệu hóa những bào tử này. Trong khi đó, hệ tiêu hóa của trẻ em vẫn chưa đủ sức để làm điều này.
Trứng
Trứng là thực phẩm dễ gây dị ứng đối với trẻ nhỏ, nhất là lòng trắng trứng. Đối với những bé dưới 6 tuổi, ăn lòng trắng trứng có thể khiến bé nổi mề đay, chàm và một số bệnh khác. Tốt nhất, mẹ chỉ nên cho con ăn lòng trắng trứng khi các bé đã được 1 tuổi đế tránh tình trạng dị ứng. Ngoài ra, nếu cho con ăn lòng đỏ trứng, mẹ cũng đừng quên nấu chín kỹ rồi mới cho con ăn nhé.
Sữa tươi
Trong sữa tươi có rất nhiều vitamin và khoáng chất, đặc biệt hàm lượng đạm trong sữa tươi thậm chí còn cao gấp đôi so với sữa mẹ. Tuy nhiên, cũng chính vì điều này mà sữa tươi hoàn toàn không phù hợp cho những bé dưới 1 tuổi. Nguyên nhân vì hệ tiêu hóa non nớt của các bé lúc này không đủ khả năng để chuyển hóa đạm, khiến thận và dạ dày của bé bị “quá tải”. Không chỉ vậy, hàm lượng vitamin C và sắt khá ít ỏi trong sữa tươi cũng không đủ để cung cấp cho nhu cầu hàng ngày của những bé dưới 1 tuổi. Vì vậy, nếu có ý định cho con uống sữa tươi, có lẽ mẹ nên “dời” lại thêm một thời gian nữa vậy.
[inline_article id=58699]
Các loại trái cây, hạt có kích thước nhỏ
Nho và các loại hạt đều có thành phần dinh dưỡng cao song với kích thước nhỏ bé của chúng lại dễ dàng khiến bé bị ngạt thở khi ăn. Khi cho bé ăn nho, mẹ nên cắt thật nhỏ để tránh nguy cơ bé bị nghẹn. Đối với những loại hạt, đậu, mẹ có thể xay nhuyễn thành bột cho bé ăn.
Những loại cá có hàm lượng thủy ngân cao
Một số những loại có như cá thu( loại lớn), cá mập, cá kiếm… có hàm lượng thủy ngân khá cao trong thịt cá. Và thủy ngân sẽ gây tổn thương đến não bộ và hệ thần kinh còn non yếu của bé. Dù chưa có báo cáo chính thức về mức độ tổn thương mà thủy ngân gây ra nhưng hầu hết các nhà khoa học đều khuyến cáo không nên cho bé ăn những loại cá này.
Giường tầng Nanakids có thể tách rời thành 2 giường đơn
Tạo môi trường phòng ngủ an toàn giúp bé ngon giấc
Ngay cả khi ở lứa tuổi mẫu giáo, bé vẫn chưa hiểu rõ được thế nào là nguy hiểm nên sẽ không biết tự phòng tránh cho mình, vì vậy mẹ phải luôn phải chú ý, bảo vệ bé. Khi quyết định để bé ngủ riêng, mẹ cần chọn lựa và sắp xếp các vật dụng trong phòng ngủ hợp lý, đồ dùng, đảm bảo độ an toàn cao nhất cho bé. Mẹ cần lưu ý chọn những đồ dùng sau đây khi cho bé ngủ riêng:
– Chọn nôi, cũi an toàn: Theo các bác sĩ nhi khoa thì giấc ngủ rất quan trọng trong việc phát triển hệ thần kinh của bé từ lúc lọt lòng cho tới khi bé được một tuổi. Vì vậy, một chiếc nôi tốt và có chất lượng cao sẽ rất cần thiết cho bé vì nó sẽ là cộng sự đắc lực cho mẹ trong việc chăm sóc giấc ngủ của bé yêu. Mẹ có thể tiết kiệm chi phí cho gia đình bằng cách sử dụng các sản phẩm nôi, cũi đa năng.
Nôi (cũi) Suri mới của Nanakids với 3 chức năng: làm nôi cho trẻ sơ sinh, tháo ráp để thành giường ngủ cho bé từ 1.5 tuổi trở lên và thành ghế sofa khi bé lớn
– Giường ngủ: Khi chọn mua một chiếc giường ngủ cho bé, mẹ nên cân nhắc thật kỹ các yếu tố như sở thích của bé, kiểu dáng, chất liệu, độ an toàn… Ngay cả khi chỉ có một con, nếu có thể, mẹ nên chọn giường đa năng cho bé với nhiều tiện lợi và tiết kiệm nhiều chi phí cho gia đình.
– Đặc biệt, mẹ nên lưu ý các tiêu chuẩn an toàn cho giường bé như: Độ cao, chất liệu… Các chi tiết nhỏ như: Góc cạnh của giường, những chiếc đinh ốc và các thanh chắn đề phòng bé ngã xuống đất.
Chuẩn bị đệm, gối phù hợp tránh tổn thương bé
Một nghiên cứu từng được công bố trên tạp chí Pediatrics (Mỹ) cho biết, rất nhiều bà mẹ người Mỹ gốc Phi sử dụng những bộ gối, đệm mềm cho trẻ bất chấp cảnh báo về tăng nguy cơ tử vong. Họ cho rằng sử dụng những bộ gối, đệm mềm giúp bé cảm thấy thoái mái hơn và bảo vệ bé khỏi bị đau. Song thực tế việc làm này có thể gây nguy hiểm cho bé. Một chiếc đệm cứng vừa phải sẽ tốt cho sự phát triển và giấc ngủ của bé.
Bộ chăn mền, nệm SESA của Nanakids với nhiều mẫu mã, chất liệu mềm mại cho bé cảm giác dễ chịu
Chuẩn bị những “người bạn” giúp bé đi vào giấc ngủ dễ dàng
Bé sơ sinh chưa biết gì nhiều và các bé vẫn còn trong giai đoạn thích nghi và tìm hiểu thế giới “lạ lùng” ngoài bụng mẹ. Vì thế, các món đồ chơi có thể giúp bé rất nhiều trong giai đoạn này. Chúng vừa có thể giúp bé vui chơi, thoải mái, lại vừa có thể làm “người bạn” giúp dỗ dành bé đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Tuy vậy, vì sự an toàn của bé sơ sinh, việc chọn lựa đồ chơi cũng đòi hỏi một số sự cân nhắc từ phía bố mẹ như:
Đồ chơi phải phù hợp với độ tuổi và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không chứa các thành phần nguy hại.
Không mua những món đồ chơi có tính bạo lực, có thể tháo ra thành những mảnh nhỏ và có cạnh sắc nhọn.
Đồ chơi của bé nên là loại dễ làm vệ sinh và có thể giữ vệ sinh tốt.
Đồ chơi thương hiệu LEGO, Leap Frog, K’s Kid giúp bé phát triển các giác quan, kỹ năng vận động, tư duy logic và chỉ số cảm xúc (EQ)
Vi khuẩn gây sâu răng sử dụng đường trong các loại thực phẩm để tạo thành và phát triển thành các mảng bám răng. Chúng tiêu hóa đường tạo thành axit ăn mòn dần các chất vô cơ ở men răng và ngà răng. Sau khi ăn bánh kẹo, các nhóc cũng rất lười đánh răng, càng tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn phát triển. Với thói quen ăn nhiều kẹo, bánh và đồ ngọt, những lỗ răng sâu cũng từ từ xuất hiện trên răng của bé.
Ảnh hưởng đến sự hấp thụ chất dinh dưỡng
Điều này nghe có vẻ hơi lạ. Nhưng sự thật là khi ăn quá nhiều thực phẩm ngọt sẽ làm giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng khác rất thấp, nhất là vitamin A, C, B, canxi, sắt, magie… những dưỡng chất rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Đối với những bé biếng ăn, việc cho bé ăn kẹo và bánh ngọt trước khi ăn cơm sẽ làm bé bị no hơi và sẽ càng ăn ít hơn trong những bữa chính.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, ăn nhiều đường sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Vì đường làm ảnh hưởng đến khả năng hấp thu một số dưỡng chất đối với cơ thể, từ đó gây ảnh hưởng xấu đến chức năng miễn dịch, lượng bạch cầu và thay đổi thành mạch máu dẫn đến việc giảm sức đề kháng của cơ thể. Những người ăn nhiều đồ ngọt sẽ dễ dàng bị các bệnh về tim mạch, béo phì và tiểu đường.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, ăn nhiều đồ ngọt cũng gây ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của bé
Trong quá trình chuyển hóa và tiêu thụ đường, cơ thể phải “đầu tư” một lượng lớn các chất khoáng thiết yếu như kẽm, magie, natri… và đặc biệt là canxi. Nếu thường xuyên ăn đồ ngọt, cơ thể bé sẽ không được cung cấp đủ lượng canxi để phát triển xương. Vì vậy, nếu không muốn con bị “nấm lùn”, mẹ nên hạn chế bớt bánh kẹo và các loại nước ngọt khác nhé!
Ăn quá nhiều đồ ngọt không chỉ khiến các bé nhẹ cân khó tăng cân mà còn khiến các bé thừa cân ngày càng nặng cân nữa đấy! Vì hàm lượng chất béo và năng lượng trong đồ ngọt khá cao, khi cơ thể chưa kịp hấp thu, chất béo dư thừa sẽ tự động chuyển hóa thành các mô mỡ gây béo phì.
Thực ra, trẻ dưới 1 tuổi có thể ăn hầu như tất cả các loại thực phẩm. Các kết quả nghiên cứu mới về dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh đang dần thay đổi những quan điểm cũ. Nhiều bà mẹ đang nuôi con nhỏ và các chuyên gia đều tin rằng chế độ ăn uống mới sẽ tốt hơn cho sức khoẻ của trẻ.
Các món ăn dặm truyền thống như bột ngũ cốc, cháo… nếu chế biến nhạt nhẽo sẽ khiến trẻ thiếu chất và gây kén ăn về sau. Những đứa trẻ bị hạn chế về khẩu vị này khi đi học mẫu giáo sẽ dễ dàng từ chối các loại thức ăn đa dạng tốt cho sức khoẻ. Thay vào đó chúng chỉ muốn ăn những thực phẩm công thức dán mác “cho trẻ em” như nui đóng hộp, gà chiên giòn hoặc bánh quy giòn vị cá chẳng hạn.
Vậy bạn phải làm sao để sớm tập cho trẻ thói quen ăn uống lành mạnh đây? Rất dễ dàng, trước hết bạn hãy thay đổi những suy nghĩ sẵn có của mình về việc cho trẻ ăn gì và ăn như thế nào trong giai đoạn này.
Trước đây, các chuyên gia dinh dưỡng trẻ em khuyên cha mẹ không nên cho trẻ dưới 1 tuổi ăn thường xuyên những thực phẩm dễ gây dị ứng như trứng, đậu phộng, các loại hạt, cá và các động vật có vỏ như tôm, cua, sò… Kết quả là nhiều cha mẹ hoàn toàn không cho con “đụng” đến những món này. Thật ra, chưa có một bằng chứng nào chứng minh rằng trẻ từ 4-6 tháng tuổi tránh được dị ứng nhờ không ăn một vài món nào đó.
[inline_article id=67099]
Trong một số trường hợp, bạn cần theo dõi kỹ con mình trước khi đưa ra kết luận trẻ bị dị ứng đối với loại thực phẩm cụ thể nào. Nếu trẻ có những triệu chứng dị ứng như chàm bội nhiễm nghi ngờ do thức ăn hoặc yếu tố môi trường, lập tức đưa trẻ đi bác sĩ để được xét nghiệm và xử lý đúng cách. Đối với những bé có tiền sử gia đình mắc bệnh hen suyễn hoặc dị ứng thức ăn, cần hỏi thêm ý kiến bác sĩ vì sự an toàn của bé. Bởi các chỉ dẫn của chuyên gia có thể không chính xác trong những trường hợp đặc biệt.
Đừng ngại dùng gia vị
Thế giới ngập tràn đủ loại món ăn ngon lành, vậy mà trẻ phải thường xuyên ăn những món thô nhạt và chẳng có mùi vị gì hấp dẫn. Dường như chúng ta chưa thực sự quan tâm đến khẩu vị của trẻ trong giai đoạn vô cùng quan trọng này. Bạn có thể thử rắc chút lá hương thảo vào món bí đỏ, thêm thì là vào món gà, hay trộn chút ngò tây và bột nghệ vào khoai nghiền cho trẻ khám phá. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên vì phản ứng thích thú của bé đấy!
Nên thêm một ít gia vị cho món ăn của con thêm “đậm đà”
Đôi khi, bạn cũng có thể cho bé thử một vài loại gia vị ít nồng, ví dụ như ớt chuông hoặc tỏi tây chẳng hạn. Mức độ sử dụng gia vị thực ra chỉ thuộc về thói quen và bạn cũng nên mạnh dạn cho con thử nhiều loại gia vị khác nhau.
Đừng ngại nấu thức ăn cho trẻ tại nhà
Không phức tạp như việc tự may quần áo tại nhà, tự nấu thức ăn cho con dễ hơn rất nhiều. Chỉ cần có một ít kiến thức dinh dưỡng, kỹ năng nấu nướng cơ bản và vài dụng cụ làm bếp đơn giản là bạn đã chế biến được những món ngon lành cho bé cưng rồi. Bạn có thể dùng nĩa tán nhỏ chuối hoặc quả bơ, nêm thêm chút gia vị hay nghiền đậu hộp, hấp rau củ tẩm gia vị rồi nghiền nhừ là đã thành một món cho con rồi. Đơn giản lắm đúng không?
Các loại máy xay, trộn và chế biến thức ăn rất tiện dụng cho các bà mẹ không có nhiều thời gian. Bạn cứ cho tất cả vào máy và theo dõi điều chỉnh độ đặc mịn của thức ăn sao cho phù hợp nhất với con mình. Dần dần trẻ sẽ quen với thức ăn do bạn nấu mà chẳng cần phải theo một công thức nhất định nào đâu.
Thay đổi khẩu vị cho trẻ
Nếu bé ngán khoai lang, sao bạn không thử một ít củ cải đỏ hấp? Hoặc thay bắp cải nhí với món đậu và cà rốt quen thuộc. Thỉnh thoảng bạn nên cho trẻ thử món mới song song với những món quen thuộc để khám phá khẩu vị, kích thích trẻ ăn ngon và nhiều dinh dưỡng hơn. Bạn có thể tham khảo ý kiến chuyên gia để chọn ra các món cùng cách chế biến mới cho trẻ thử dần dần, đồng thời cải thiện bữa ăn cho cả gia đình.
Hiểu rõ về thực phẩm hữu cơ
Nhiều cha mẹ khá bối rối vì cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng thuyết phục rằng thực phẩm hữu cơ tốt hơn các loại thực phẩm thông thường. Bên cạnh đó là những quan điểm mâu thuẫn xung quanh việc thuốc trừ sâu và chất kích thích trong thực phẩm thông thường gây độc hại cho sức khoẻ. Để quyết định xem có nên cho con ăn thực phẩm hữu cơ không và ăn với số lượng như thế nào, bạn cần cân nhắc đến yếu tố ngân sách gia đình cũng như trẻ có thích những loại thực phẩm đó không…
Một điều lưu ý nữa là, tính hữu cơ trong từng loại thực phẩm không hề giống nhau. Các loại măng tây, khoai lang, trái bơ… thường chứa ít dư lượng thuốc trừ sâu; ngược lại táo, dâu tây và rau xà lách chứa khá nhiều lượng thuốc có hại này. Đặc biệt nếu muốn cho con uống sữa hữu cơ, bạn nên chọn cho bé nguồn sữa hữu cơ từ những trang trại có phương pháp nuôi trồng không dùng thuốc kháng sinh, chất kích thích tăng tưởng, thuốc trừ sâu và các loại phân bón hoá học… Và chỉ nên cho con uống sữa hữu cơ khi bé được trên 1 tuổi thôi nhé!
Các thực phẩm hữu cơ thường không đa dạng về chủng loại so với thực phẩm thông thường. Nếu thích chọn thực phẩm hữu cơ, bạn nhớ điều quan trọng nhất là cần xen kẽ thêm nhiều loại thực phẩm thông thường cho bữa ăn của trẻ luôn phong phú, đầy đủ chất nhé!